Địa chỉ: Lầu 6, Master Building, 41-43 Trần Cao Vân, P.6.Q3. TP.HCM

logo

Nhat Viet Logistics


Home for goods

Hotline

0971 21 22 23

Logistics Việt Nam – Nhìn lại để đi tới (Kỳ 1)

Bài 1: Thách thức và cơ hội

Lâu nay những cụm từ như: “80% miếng bánh lợi nhuận của ngành logistics Việt Nam đã rơi vào tay những công ty nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia”; “Làm sao để đưa ngành logistics còn non trẻ này phát triển?”; hay “Các doanh nghiệp logistics Việt Nam hoạt động manh mún và thua ngay trên sân nhà!”… được đề cập rất nhiều lần trên báo chí, hoặc tại các diễn đàn chuyên ngành. Liệu những nhận định, những lời “than vãn” ấy có thỏa đáng?

Đã đến lúc chúng ta phải ngồi lại để phân tích, đánh giá những cụm từ trên liệu có còn phù hợp với sự phát triển không ngừng của ngành logistics Việt Nam trong những năm vừa qua.

Việt Nam đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đây là cơ hội để tất cả các ngành kinh tế – trong đó có Logistics, phát triển. Tuy nhiên, thực tế trong những năm qua cho thấy các ngành kinh tế nói chung và lĩnh vực logistics nói riêng chưa phát triển đúng với vai trò, tốc độ của những thuận lợi này.

MỘT CHẶNG ĐƯỜNG ĐẦY KHÓ KHĂN 

Với ngành logistics, hội nhập tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt nam có nhiều cơ hội tham gia vào thị trường quốc tế, nhưng cũng tạo áp lực rất lớn cho các doanh nghiệp ngay tại thị trường trong nước, khi mà các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào đầu tư và hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics tại Việt Nam. 

Việc nhận thức đúng, đủ về logistics của các doanh nghiệp trong nước chưa cao. Phần lớn các doanh nghiệp cho rằng đơn thuần nghiệp vụ logistics chỉ là vận chuyển hàng hóa, lưu kho bãi hoặc các dịch vụ hải quan (Forwarding) mà không tích hợp các dịch vụ giá trị gia tăng của chuỗi cung ứng. 

Chưa thấy hết ý nghĩa của logistics là đảm bảo cho các ngành kinh tế khác về thời gian, chất lượng hàng hóa, chi phí vận chuyển, bảo quản, phân phối hàng hóa, bởi vì nó tối ưu hóa các khâu trong chuỗi cung ứng, mang lại giá trị kinh tế cho các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics. Chính vì chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng cũng như nguồn lợi nên các doanh nghiệp cũng như ngành chưa chú trọng đầu tư để phát triển nguồn nhân lực. Hiện tại, chương trình đào tạo của các trường đại học, cao đẳng còn yếu, thiếu các kiến thức chuyên sâu về logistics. Đào tạo về logistics chưa thành một chuyên ngành mà chủ yếu là một vài học phần giới thiệu về dịch vụ vận tải và  giao nhận   đường biển hoặc dịch vụ khai quan đơn giản trong nghiệp vụ xuất nhập khẩu. 

Mặt khác, hệ thống giao thông của Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển nên chưa đồng bộ và quy chuẩn. 

Bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp là làm thế nào để vận dụng thích hợp những yêu cầu của khách hàng với điều kiện hạ tầng, nguồn nhân lực thực tế tại Việt Nam. 

Với xu thế toàn cầu hóa của nền kinh tế, việc ứng dụng công nghệ thông tin (IT) vào quá trình quản lý các doanh nghiệp, có một vai trò vô cùng quan trọng nhất là những doanh nghiệp trong ngành logistics. Thế nhưng thực tế, việc áp dụng các phềm mềm ứng dụng chuyên ngành vào quá trình quản trị kho, phân phối hàng hóa, quản lý tài chính của các doanh nghiệp còn rất hiếm hoi do đòi hỏi chi phí đầu tư lớn và cần có cái nhìn xa hơn. 

SỰ CHUYỂN MÌNH CỦA DOANH NGHIỆP LOGISTICS NỘI ĐỊA
Là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, hàng năm logistics đóng góp khoảng 1/5 (20%-25%) GDP của đất nước, điều đó cho thấy không phải phần lớn doanh thu này là do các tập đoàn đa quốc gia hay các doanh nghiệp nước ngoài đảm nhận, mà một hệ thống các doanh nghiệp logistics Việt Nam trong lĩnh vực này đang chứng tỏ sức mạnh nội tại, năng lực của mình để đáp ứng các yêu cầu của thị trường. Muốn đánh giá đúng về năng lực của các doanh nghiệp trong ngành cần phải phân khúc thị trường. 
Nhìn vào 3 nhóm doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistic chủ yếu tại thị trường Việt Nam hiện nay: các công ty đa quốc gia, công ty liên doanh nước ngoài; các Tổng công ty, tập đoàn nhà nước; các công ty tư nhân, cổ phần. Nhóm thứ nhất – đa phần tập trung vào phân khúc khách hàng toàn cầu của họ tại mỗi quốc gia, là những khách hàng có nhận thức về logistics rất đầy đủ và có nhu cầu sử dụng các dịch vụ logistics trọn gói. Nhóm thứ hai – chiếm lĩnh gần như toàn bộ các dịch vụ về  giiao  nhận  vận tải trong nước, phục vụ đa dạng phân khúc khách hàng và chủ yếu có thế mạnh chuyên từng mảng riêng lẻ. Phần lớn lợi nhuận trong lĩnh vực vận tải và vận tải phân phối rơi vào khối doanh nghiệp này. 

Nhóm thứ ba – nhóm có nhiều tiềm năng phát triển nhất trong tương lai, nhắm vào phân khúc khách hàng tương đồng – các công ty tư nhân, cổ phần là những thương hiệu mạnh của Việt Nam. Ở nhóm thứ ba này, cả nhà cung ứng dịch vụ logistics lẫn người sử dụng dịch vụ đều đang thay đổi rất nhanh nhận thức về logistics. Khi quyền lợi của người làm chủ gắn liền với quyền lợi của doanh nghiệp, họ luôn tính toán phương án hiệu quả nhất cho hoạt động kinh doanh đặc biệt là các yếu tố tác động đến chi phí và cạnh tranh. Tuy nhiên, hiện nay có một số doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics Việt Nam đang phát triển theo mô hình cung ứng dịch vụ 3PL, 4PL và nhắm vào phân khúc thị trường của cả 3 nhóm trên. Ngoài việc cung ứng các dịch vụ đơn lẻ cho các công ty nhà nước vốn có bộ phận chuyên trách về logistics; hay đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ, dịch vụ gia tăng giá trị, quy chuẩn chất lượng tiêu chuẩn quốc tế để thu hút nhóm công ty đa quốc gia; họ rất có lợi thế khi hướng tới nhóm thương hiệu mạnh của Việt Nam. Lợi thế sân nhà, giúp nhà cung ứng dịch vụ logistics thấu hiểu về thực trạng phát triển của doanh nghiệp trong nước, để có thể tư vấn và cung cấp giải pháp linh hoạt, đồng hành, chia sẻ và từng bước đào tạo và hoàn thiện hệ thống của họ theo một lộ trình hợp lý, hiệu quả phù hợp với thực trạng doanh nghiệp. 

Nhóm doanh nghiệp này đang trở thành một đối trọng cạnh tranh mạnh mẽ với các nhóm còn lại, nhất là có nhiều cơ hội dành ưu thế trên sân nhà so với các công ty đa quốc gia. Việc một số công ty như Công ty cổ phần Vinafco đã dành được những hợp đồng cung ứng dịch vụ 3PL cho các khách hàng quốc tế lớn như Akzo Nobel (Sơn Dulux), Kimberly – Clark (Kotex)… đã tạo ra một “sân chơi” bình đẳng cho ngành logistics Việt Nam.

Nếu bức tranh toàn cục cho thấy, thị phần dịch vụ logistics tại Việt Nam hiện nay doanh số áp đảo vẫn thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài; nhưng khi nhìn sâu vào từng doanh  nghiệp logistics của Việt Nam, thì sẽ thấy sự phát triển, vươn lên từng ngày. 

Như vậy, để theo kịp với sự phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp Việt Nam đang không ngừng đầu tư công nghệ, quy mô, nhân sự, đổi mới phương thức kinh doanh để có đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài. Đã đến lúc chúng ta phải nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan tiềm năng phát triển và cả những nỗ lực không ngừng của những doanh nghiệp logistics Việt Nam hiện nay.

CƠ HỘI RỘNG MỞ

Kể từ khi Luật Thương mại có hiệu lực, các doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực logistics đã phát triển nhanh chóng. Tính đến nay đã có hơn 600 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ hàng hải và logistics. Các doanh nghiệp này đã có những đóng góp lớn vào sự phát triển của nền kinh tế và đang từng bước hội nhập, trưởng thành về mọi mặt. Với tốc độ này trong vài năm tới đây số lượng doanh nghiệp kinh doanh trong ngành logistics có thể sẽ vượt cả Thái Lan (1.100 công ty); Singapore (800 công ty), đồng thời chất lượng dịch vụ cũng như năng lực của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ được hoàn thiện và nâng cao.

Trong quy hoạch phát triển vận tải biển từ nay tới năm 2020 đã được Chính phủ phê duyệt, dịch vụ logistics cũng được nhấn mạnh với dịch vụ vận tải đa phương tiện chất lượng cao, hướng tới dịch vụ trọn gói (3PL, 4PL) và mở rộng ra nước ngoài để đáp ứng nhu cầu hội nhập. 

Ở Việt Nam tiềm năng phát triển dịch vụ logistics còn rất lớn. Dự tính trong 10 năm tới, kim ngạch xuất khẩu sẽ đạt 200 tỷ USD. Năm 2010, sản lượng vận tải cả nước đạt 714,8 triệu tấn hàng hóa, 223,8 tỷ tấn/km (tăng 12,4% về tấn vận chuyển và 10,5% tấn/km). Lượng hàng container thông qua cảng biển tăng 16,9%, hàng lỏng tăng 24%, hàng quá cảnh tăng 6%, vận tải hàng không tăng 20% về hành khách và 30% về hàng hóa so với năm 2009.

Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có nhiều lợi thế hơn các doanh nghiệp nước ngoài trước những cơ hội nêu trên. Thứ nhất, về hệ thống kho bãi, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đang sở hữu phần lớn hệ thống kho bãi phục vụ trong ngành logistics (các doanh nghiệp nước ngoài đa phần khi thực hiện chuỗi cung ứng đều phải thuê kho hoặc nếu có thì phải liên kết, liên doanh với các doanh nghiệp trong nước). Thứ hai, các doanh nghiệp trong nước là những người sẽ nhanh nhạy, nắm vững được thị trường, tâm lý khách hàng, vị trí địa lý, thời tiết, văn hóa của người bản địa hơn các doanh nghiệp nước ngoài. Thứ ba, về nhân sự, lao động Việt Nam thông minh, nhanh nhạy nên dễ dàng nắm bắt các quy trình, công nghệ tiên tiến của nước ngoài. Thậm chí, các doanh nghiệp Việt Nam có thể thuê các chuyên gia là người nước ngoài làm việc cho mình.

 

Tin liên quan

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giới thiệu

Tại sao chọn Nhất Việt?

  • Tôn trọng và lắng nghe
  • Uy tín
  • Chất lượng dịch vụ
  • Nhanh chóng
  • Và luôn hướng đến lợi ích khách hàng

Video giới thiệu công ty

Danh hiệu đạt được

Tin mới

Go to top of page